Wednesday, April 15, 2020
Tuesday, April 14, 2020
Còn Thương Quê Hương Tôi
“Còn sống…
tôi còn
khóc,
tôi còn thương quê hương tôi!”*
- Quý ơi… Quý!
Tiếng người đàn bà vang lên từ bên trong xóm nhà
gần bờ biển.
Không nghe con ơi hỡi vâng dạ chi cả. Chị bỏ sàng
tôm khô trên khạp nước, rồi bước ra con đường đất nhỏ. Đưa bàn tay lên che nắng.
Chị nheo mắt nhìn ra biển, rồi hướng về mấy đứa trẻ con chòm nhom chơi “tạt lon” ở ngoài đầu xóm gọi lớn thêm lần nữa.
- Quý ơi… Quý!... Ba mầy dìa kia kìa!
Trò chơi “Tạt lon” giản dị, chỉ cần cái lon,
chiếc dép và chút ít khoảng trống. Dùng gạch vụn hay phấn
kẻ thành vòng tròn, hoặc vuông chừng hai gang tay, làm dấu cho chỗ đặt cái lon.
Từ chỗ cái lon phóng chừng 4, 5 bước dài, vạch một đường ngang làm mức đứng để
tạt lon. Khởi đầu, ai chơi thì đứng ở khung kẽ của lon thảy chiếc dép của mình về
vạch ngang này. Dép đứa nào gần vạch nhất được phần tạt trước. Ngược lại, dép đứa
nào xa vạch nhất sẽ phải làm đứa canh giữ cái lon. Nhiệm vụ giữ lon, coi vậy
chứ cực và bực lắm, như là một hình phạt. Mấy đứa được phần tạt lon, hớn hở chạy
đứng chỗ vạch ngang và lần lượt dùng chiếc dép của mình tạt mạnh về hướng cái
lon, sao cho dép trúng lon, làm cho nó bị văng ra khỏi khung kẻ, càng xa càng
tốt. Mỗi khi lon bị tạt văng ra ngoài vòng, lăn lon con, đứa giữ lon phải chạy theo
lon mà lượm đem về đặt lại chổ cũ ngay, đồng thời phải lẹ mắt, lẹ chân và lanh
tay mà rượt và tìm cách chạm vào người đứa đi lượm chiếc dép của mình, trước
khi nó nhặt xong chiếc dép chạy được về phía sau vạch; không bắt được ai để thế
mình thì cứ giữ lon và chạy lượm lon tiếp tục. Hễ bị đứa giữ lon chạm trúng
người, thì phải thế chỗ, làm kẻ giữ lon. Cứ thế, sau tiếng lon bị tạt trúng lăn
lon con, lóc cóc, là tiếng chân chạy huỳnh huỵch, là rộ lên tràng reo la, cười đùa,
trêu chọc của bên thắng cuộc. Cuộc chơi của trẻ thơ hồn nhiên vang inh ỏi cả một
góc xóm. “Tạt lon” không nhất thiết chỉ
dành cho bọn con trai, mấy đứa con gái cũng tham dự; tiếng cười la trong trẻo
của con gái hình như vang xa hơn mấy đứa trai.
Tôi phải công nhận con Nhí tạt lon rất hay, hay hơn con Lượm
và hay hơn cả bốn đứa con trai trong nhóm. Nó không chọi mạnh như mấy đứa con
trai. Bọn con trai, nhún nhún, nhảy nhảy, tung người lên, cứ thẳng cánh tay mà
tung chiếc dép tới; thường thì trớt quớt, chiếc dép bay xẹt qua cái lon, nằm
công kênh tuốt ngoài xa. Mấy đứa chọi trật, chạy lên đứng lóng nhóng bên chiếc
dép thua cuộc của mình, chờ cơ hội từ con Nhí, đứa duy nhất trong nhóm còn chiếc
dép trên tay. Con Nhí đã thấp nhỏ, nó còn khom khom xuống, tay cầm chiếc dép nằm
ngang, dí dí đằng trước mắt mình vài cái định hướng cái lon, rồi vung tay,
phang chiếc dép. Vụt một cái. Cái lon bị chiếc dép tạt ngang, văng ra khỏi vòng
cả thước, rồi lăn ton ton thêm một lúc, nghe thật vui tai. Con Nhí lẹ lắm, nó lắt
choắt, phóng cái vèo lên ngay sau chiếc dép, khòm lưng lượm chiếc dép chạy về
phía sau. Thằng Quý chạy lượm cái lon vừa đặt xuống vị trí, vừa ngó tìm con
Nhí, thì “bang” con Lượm lợi dụng thẳng Quý chạy theo cái lon, lượm chiếc dép chạy
về phía trên mức, thừa cơ hội phang chiếc dép. Cái lon lại bị tung lên, lăn lóc
cóc. Thằng Quý lại lịch phịch chạy đuổi theo cái lon. Tiếng chân nó nặng nề. Nó
mệt lắm rồi. Đám con trai lột trần trùi trụi. Thằng Quý đổ mồ hôi, lưng nó ướt đen
bóng, mặt quạo đeo, vừa chạy lượm lon vừa quơ quào hốt đại theo bóng mấy đứa thừa
cơ hội nhặt lấy dép mà chạy ùa về. Đã vậy, thằng Sữu và đám con trai chạy về mức
hết, còn nhảy lưng tưng làm trò chọc thằng Quý. Thằng Quý chạy lượm cái lon, tay
đập mạnh cho nó đứng giữa vòng tròn xong, mắt lườm con Nhí:
- Không cho con gái chơi tạt lon!
Con Nhí biết nó nói mình, chứ không phải nói con Lượm. Nó không
chịu thua:
- Ơ… Hồi giờ… có ai cấm con gái chơi tạt lon đâu?
- Tao cấm đó!
- Vậy chứ… hồi nãy, đứa nào theo năn nỉ con Lượm với tao…?
Thắng Quý bị bắt giữ lon lâu quá nên mệt. Mệt nên đổ quạu, rồi
nói càn, giờ thì ấm ớ, mắc cở lắm; nó chưa biết phải trả lời sao thì con Nhí lại
đàn áp nó:
- Xí í í í!
Con Lượm được thế, phụ họa với con Nhí, hất mặt, “Xí” thêm một
cái dài không kém và kèm theo cái nguýt cũng dài thậm thượt. Dù muốn bênh thằng
Quý lắm, đám con trai cũng ậm ừ nín chịu.
- Quý ơi là Quý!... Tàu dìa!
Trong thoáng yên lặng ấy, con Nhí nghe mẹ thằng
Quý gọi, bèn kêu lên:
- Tàu dìa!
Nghe mấy chữ “tàu dìa”, cả đám khựng lại, ngó ra
biển. Rồi bọn trẻ nhảy tưng tưng vui mừng:
- Tàu dìa!... tàu dìa! tàu dìa!... tàu dìa!...
Đám trẻ ngưng chơi tạt lon, quên mất chuyện cãi
vã nhau, bỏ cái lon đứng chơ vơ trong vòng tròn, cùng ùa chạy ra cầu tàu, đón
tàu về.
Mấy chiếc tàu đánh cá vào cận bờ, động cơ giảm tốc độ, tiếng máy
nghe phành phạch vang dội một lúc rồi thưa thớt dần.
Trời về chiều đã tắt nắng.
Nghe tiếng đám trẻ con gọi nhau “tàu dìa!” và kéo
nhau chạy ra cầu tàu, chị Thà ngó thấy trong đó có thằng Quý, con của chị. Chị
Thà có vẻ vừa ý, thôi, không gọi nữa, quay vào trong nhà.
Sực nhớ mớ tôm của mình, chị đi ra cửa để lấy sàng tôm khô
phơi nắng trên khạp nước từ hồi sáng, bưng nó đem vào bên trong nhà.
Từ giống tôm đất thiên nhiên đến cách luộc và phơi đã làm cho
tôm khô Cà Mau được ưa chuộng lắm. Con tôm luộc nước thật sôi một lúc rồi mới
cho muối vào luộc tiếp, sau đó mới đem ra phơi nắng; nắng mặt trời vùng đất
mũi, tận cùng ở cuối phía Nam.
Thế nhưng, mớ tôm của chị là loại quá nhỏ, nhà cầm quyền chê,
không thèm thu mua. Sau khi phơi vài vắng, con tôm đã nhỏ, càng teo rút nhỏ lại
thêm, lớn hơn hạt cơm đôi chút. Tuy nhỏ, nhưng nhỏ hay lớn gì cũng vậy, giống
tôm đất vùng biển, luộc chín và phơi khô bằng nắng miền biển, có màu đỏ au, thịt
khô chắc nhưng mềm ngon trong miệng và hương vị thơm ngon rất đặc biệt. Nhiều
món ngon miệng, bắt mồi từ tôm khô của vùng này: cơm cháy tôm khô kho quẹt, tôm
khô củ kiệu, gỏi xoài xanh tôm khô, gỏi cóc chua cay, …
- Mẹ!...
Có tiếng thằng Quý gọi. Chị quay lại. Thằng Quý đứng
tần ngần trước cửa, tay cầm đôi dép, tay xách cái thùng đựng mớ cá vụn, nhìn chị
mà ấp úng.
- Gì đó?.... Bỏ thùng cá ngoài sàn nước, rồi đi rửa
chân, mang dép vô, chiều tối rồi!... Ba đâu?
- Còn dưới bến…
- Mần gì dưới?
- Ba mắc “mần việc” với công an…
- Cái gì?!...
Chị Thà để cái sàng tôm lên bàn, quày quã rời
nhà, đi xuống bến. Chị lo quá, không biết chồng mình phạm cái tội gì mà bị công
an “mần việc”. Thằng Quý bỏ đại thùng cá xuống, hai tay cầm hai chiếc dép lẽo đẽo
theo mẹ:
- Nghe nói… ghe nhà con Lượm… nghe nói… Ba nó đi
rồi!
Chữ “đi” mà thằng Quý mới nói, bây giờ rất là phổ
thông, sau khi cộng sản chiếm miền Nam của chị, nhất là trong vùng ven biển này.
Chỉ mỗi một chữ ngắn ấy, nó kể lại cả một chuyện dài đầy thương tâm; cho dù người
ra đi có đến được bến bờ tự do hay ra đi mà không bao giờ đến. Nó báo cho những
người còn lại phải khôn hồn mà tránh liên lụy. Kinh nghiệm sống dưới cái chế độ
cộng sản này là như vậy. Không nghe, không nói, không thấy, không biết gì hết vẫn
có lợi hơn cho mình. Mấy cái vụ “đi” này không lạ gì với chị, cũng không phải
là lần đầu xảy ra trong cái xóm biển này. Nghe thằng Quý nói vậy, chị Thà khựng
lại, cầm tay thằng Quý, quay trở về nhà:
- Thôi,... đi dìa!
- Mình không xuống bến với Ba à?
- Xuống mần chi!
Chị biết chồng chị có thừa kinh nghiệm để đối phó
với mấy cái vụ “mần việc” của bọn công an về vụ ghe và ngư phủ trong đoàn đã vượt
biển. Thằng Quý không biết tại sao mẹ nó không còn muốn xuống bến, nhưng nhìn mặt
mẹ nó nghiêm trọng quá, nó không dám cãi lời hay hỏi han chi thêm. Rồi trong
phút chốc, nghĩ lại tội nghiệp thằng Quý, chị buông lơi tay con, vói tay lấy
đôi dép và cầm cho con; chị dịu giọng:
- Dìa nhà, Mẹ tắm rửa cho con, rồi ăn cơm… Chút
Ba dìa.
Mấy chiếc thuyền đánh cá nhỏ cột trên bến, nhấp
nhô in mình trên ánh đỏ thẫm của hoàng hôn. Ba người mặc đồng phục công an kéo
nhau về trạm. Mấy người đánh cá trong xóm, ra khơi đánh cá với ba của con Lượm
hồi sáng sớm, giờ cũng lục đục tản hàng, mạnh ai nấy về nhà.
Đi ngang ghe tôi, anh Thà dừng chân, đưa cái
thùng nhựa trên tay lên:
- Hốt một mớ ăn cơm!
Tôi tuột xuống phía sau ghe, lấy cái thau và đi
ra mũi ghe. Anh Thà vói lấy cái thau, xúc và đưa lên cho tôi một thau đầy vun mực
ống nhỏ lẫn lộn các thứ cá vụn vặt chưa lựa ra.
- Cám ơn anh Thà nghen.
- Ơn nghĩa gì… chút đỉnh vậy mà!
- Anh cho nhiều quá vậy.
- Tui còn đây nè, lo gì…
Dân đánh cá bây giờ nghèo hơn, sống chật vật hơn.
Họ không còn được phép bán cá của mình như hồi còn sống trong chế độ tự do; bây
giờ, hải sản kiếm được bị cái gọi là “nhà nước” thu mua, các thứ đáng giá. Chế
độ cộng sản làm cuộc sống họ thêm khó khăn, nhưng không thay đổi được bụng dạ
chất phát và tình người chan hòa của dân làng miền Nam.
- Lựa cá ra kho là đủ ăn cơm rồi… Chắc tụi tui
phơi nắng một mớ mực, hôm nào chạy xuống đây, mình lai rai!
- Ừa… tối nay dìa hả…
- Dà, nhân viên trạm ướp đá tôm rồi xuống hàng
xong, thì tụi tui dìa.
- Rồi… có chuyến, chạy ghe xuống đây… mình nhậu!
Anh Thà cười hề hà hứa hẹn rồi xách cái thùng
lên:
- Thôi. Tui dìa… để bả trông.
Tôi không hỏi và anh Thà cũng không nói; ai cũng
biết không nên bàn nhắc về chuyện trốn đi của anh Bá, ba của con Lượm, trong
lúc này. Nhưng trong anh và tôi cũng đều cầu mong cho chiếc ghe đánh cá bé nhỏ
của ba con Lượm đến bến bờ tự do bình an. Bây giờ, ai cũng mong có cơ hội thoát
đi được như anh Bá. Chúng tôi cũng muốn trốn đi từ hơn năm nay rồi. Anh Thà chắc
cũng mong trốn đi cùng với chị Thà và thằng Quý. Nhưng thoát đi một mình đã
khó, mang vợ con xuống ghe để theo cùng thì không phải dễ, càng khó hơn gắp bội
phần. Tội nghiệp chị Bá và con Lượm chắc khóc vùi lúc này. Anh Bá thoát đi được,
thì chị Bá và con Lượm còn có cơ hội sang với anh và được làm người tự do.
Con chim hải âu muộn màng, đơn độc chao lượn gọi
đàn. Những tia nắng cuối cùng của ngày loáng thoáng, lấp lánh trên mặt sóng. Bến
tàu thưa vắng, không còn tàu thuyền ra khơi hay trở về bến. Chỉ trong vài phút
ngắn, mặt trời đã khuất hẳn. Ngày tàn. Đêm đen phủ trùm. Ngày mai trời lại sáng
trên biển. Nhưng đêm đen của cộng sản bạo tàn vẫn còn phủ trùm trên quê hương
tôi.
“Triền miên, giông bão
biển Đông thét gào
Cuốn đi cánh hoa đào,
dạt trôi nơi nao
Trùng dương như khóc,
như than cho đàn con
Biển sâu là mộ chôn,
con ơi, ôi đoạn trường!
Trời đêm sao rơi, nước
mắt ôi long lanh
Khổ đau không vơi, tóc
đã phai màu xanh
Xa nhau mãi từ đây,
chia ly mãi từ đây
Yêu thương và nhung nhớ
dâng tràn đầy
Sương bao phủ đầy trên
quê hương khổ ải
Yên vui giờ đổi lấy lầm
than, kiếp đọa đầy!
Mịt mờ hôm nay, nào ai
biết tương lai!
Còn sống, tôi còn khóc,
tôi còn thương quê hương tôi
Còn sống, anh còn nhớ,
anh còn thương em ơi
Còn sống, ba còn nhớ,
ba còn thương con ơi” *
Bùi Đức Tính
……………………………………………………..
* Lời nhạc “Lưu Đày”, sáng tác: Lê Minh Đảo
Monday, April 13, 2020
Cái máy phát điện khởi động sình sịch mấy tiếng
ngắn rồi chạy đều. Bóng đèn trên trạm thu mua nối nhau bật sáng lên. Trong bóng
đêm, nhà lưa thưa, đèn vàng leo lét, gian nhà sàn bây giờ phựt sáng. Ánh đèn
sáng choang một góc xóm biển. Cơm chiều xong, công nhân tụ lại làm việc, chuẩn
bị để chuyển hàng xuống ghe. Tiếng thùng kéo lôi, thảy nện trên sàn nhà, tiếng
cười, tiếng nói, gọi nhau ồn ào. Gian nhà này dùng làm nơi nhận và chuyển hàng.
Không có hàng lên, hàng xuống, hay không có ai bày ra ăn nhậu, thì nơi này thường
vắng vẻ lắm; thỉnh thoảng mới có người ra ngồi hút thuốc, nhìn sóng đùa cùng biển
nước một lúc, rồi cũng bỏ đi.
Có một văn phòng nhỏ, kế bên là kho chứa và giữ
lạnh cho các cây nước đá, cùng các thùng tôm đã ướp lạnh. Chính giữa chừa trống,
để có chỗ cho các thứ công việc chính như: thu nhận nước đá, hải sản, vô thùng,
chuyển hàng xuống ghe… Cái máy xay giờ được kéo ra khoảng trống, gần bên cửa
kho. Tiếng máy chạy rầm rĩ. Mỗi lần nó ngốn cây nước đá khua nghe rổn rảng, inh
ỏi. Tôi lấy cái thùng xô, bước lên trên trạm. Chú Miên, công nhân chạy máy, hiểu
ý ngay, cười tươi:
- Nước đá?
Hỏi để hỏi, để chào hỏi. Miệng hỏi tôi, tay chú
Miên đã đón lấy cái thùng đưa ngay vào máy và hứng nước đá. Soạt cái là được nửa
thùng. Chú Miên lấy tay ém đá xay xuống, rồi hứng tiếp.
- Dà, lưng thùng được rồi chú!
Tôi nói xong thì thùng xô đã đầy. Chú Miên đưa
lại cho tôi:
- Kệ nó, nhầm nhò gì
- Cám ơn chú… anh Thà cho mớ cá với mực hồi chiều,
tính để sáng mai mới mần…. Sắp xuống hàng chưa chú?
Tôi giải thích cho có chuyện để nói; không ai
thèm thắc mắc với vài xô nước đá. Chú Miên hất mặt hướng về hàng thùng đã đậy nấp,
sẵn sàng chuyển xuống ghe, và chừng hơn một lố còn mở nấp, chờ ướp thêm đá xay:
- Gần xong rồi, … còn hơn chục thùng gì đó thôi!
Tôm thu mua từ mấy hôm trước, được cho vào
thùng và ướp lạnh ngay, để giữ cho tươi trong kho. Khi đến hạn, hoặc đủ số lượng
chuyển về công ty; trước khi xuống hàng, thùng tôm được mở ra để kiểm lại, rồi
đổ thêm nước đá mới xay cho đầy thùng, cùng lúc với số tôm mới thu mua trong
ngày.
- Ngon lành…. Tụi tui chuẩn bị để xuống hàng!
Tôi cám ơn chú Miên thêm, rồi đi trở về ghe.
Ngó Vũ đang đứng ngóng tin bên trên mui, tôi
vui vẻ báo tin:
- Sắp xong!
Nằm chờ cho đủ hàng ngoài trạm thu mua chán lắm;
vừa buồn vì không có chuyến chở hàng, vừa buồn vì ngoài này buồn lắm. Gì chớ,
có hàng, có chuyến chạy và được chạy về thành phố thì vui rồi. Vũ cũng vui lắm,
chỉ chờ nghe vậy, tuột ngay xuống mui cho máy chạy, rồi mở đèn lái trên mui và các
đèn trong khoang ghe, để công nhân chuyển hàng xuống. Tôi dọn dẹp khoang ghe; chỉ
cần kéo gom mấy tấm bạt ra phía sau, thế là lòng ghe trống ngay. Ba mươi sáu
thùng tôm. Chất ba thùng ngang, chừa lối đi hai bên trong lòng ghe, hàng dọc để
sáu thùng; chỉ cần hai tầng là xong. Vẫn còn nhẹ, so với trọng tải 15 tấn của
ghe. Được trả tiền theo chuyến. Mình cầu cho ít hàng, nhẹ ghe, dễ lái, ít hao dầu.
Nhiên liệu là một trong các thứ cần thiết hàng đầu, khi trốn đi. Nhầm những lúc
biển động, thu mua ít tôm, thì “nhà nước” phải chịu. Họ không thể neo ghe vận
chuyển, hay giữ tôm tồn kho lâu ngày, tôm sẽ bị hư. Công nhân trên trạm và hai đứa
tôi, phụ nhau chuyển các thùng hàng xuống ghe, chỉ một lúc ngắn thì xong. Vũ và
tôi lấy mấy tấm bạt, phủ trùm lên khối thùng tôm sắp gọn giữa lòng ghe, cho kín
gió, giữ đá chậm tan. Xong, Vũ vào trong mui ghe sẵn sàng điều khiển máy, tôi leo
lên mũi ghe đi lên trạm để tháo dây.
Như thông lệ, xuống hàng xong, thì dọn dẹp và kế
đến, ít nhiều cũng có… lai rai, để giải lao. Tối nay, không phải vô nhiều thùng
tôm mới. Chỉ cần chuyền vài thùng nước biển lên, dọn rửa nước tôm trên sàn nhà,
là xong việc. Cái máy xay nước đá đã được kéo dẹp vô vách kho hàng. Phía trong
sàn nhà, nơi còn khô ráo, nhóm công nhân đang bao quanh cái bàn nhỏ có mớ mực
khô và chai rượu trắng. Thấy tôi, anh Bền ngồi bên ngoài, cầm cái ly trên tay, bóc
miếng mực khô, nhanh nhẹn đứng dậy đi xuống cầu tàu, gọi lớn:
- Để đó đi!... tui mở dây cho mà!... Nè!.. làm
miếng cho ấm!
Tôi vói tay đón lấy miếng khô mực và ly rượu,
cho anh Bền rãnh tay tháo dùm đầu dây cột trên trạm.
Luật bất thành văn, “làm (một) miếng” cũng có
nghĩa là cạn ly. Rượu trong veo, “nước mắt quê hương” đấy, lấp lánh, sóng sánh
ngang đường ngấn của ly “xây chừng”. Tôi cám ơn anh Bền và đưa ly hướng về nhóm
công nhân trong bàn: “Dzô!”
Tôi uống cạn cái “xây chừng”, cho cạn tình, cạn
nghĩa.
Anh Bền tháo dây, cuộn tròn và thẩy xuống mũi
ghe.
Tôi cám ơn anh Bền và vẫy tay từ giả chung:
- Tụi tui dìa nghen!
Quấn nhanh sợi dây, tóm cho gọn chặt vào mũi
ghe. Tôi kéo cây sào lên, chống đẩy cho mũi ghe xoay hướng ra ngoài lòng sông. Chiều
tối, sông và biển trống vắng như lúc này; mình tắt máy, làm như ghe hư máy, cứ
để dòng nước đưa dần ra ngoài khơi... Tôi nuối tiếc, quay về với thực tại và chạy
nhanh lên mui ghe để giữ cần lái. Chờ tôi cầm lấy cần lái, Vũ đạp “embrayage”
và tay gài cần số cho ghe chạy tới; điều khiển cái động cơ John Deere của ghe,
giống như nó còn đang chạy chiếc máy cày. Chân vịt khởi động, đạp nước phùn phục.
Sức đẩy cuộn vòng thành sóng, đập mạnh vào bánh lái. Cần lái rung động trong
lòng bàn tay, cùng rung động, lao chao, thúc dục trong lòng tôi. Tôi ngước nhìn
biển khơi. Biển của tôi đây. Biển của ước mơ đang rộng mở, đợi chờ. Tự do trong
tầm mắt, nhưng xa quá, hãy còn ngoài tầm tay. Tay kéo tăng dần tốc độ máy, tay
đẩy nhanh cần lái sang phải; tôi đưa chiếc ghe khẻ nhóng mũi lên và nghiêng
mình quanh vòng sang trái, để chạy trở về thành phố.
Sau lưng tôi, đèn trên trạm thu mua rồi cũng mờ
khuất trong màn đêm. Biển khơi lùi xa dần. Biển của tôi rất thật, thật gần,
nhưng còn ngăn cách. Mỗi lần quay tàu trở về, tôi bồi hồi, nao nao; cứ quay
nhìn biển khơi sau lưng, lòng đầy nuối tiếc. Hơn một năm rồi. Ra đến biển, nhìn
đại dương mênh mông, mong chờ, để rồi lại quay trở vào. Cái nao nao, bồi hồi
hôm nay càng thêm bồn chồn với chuyện ghe của anh Bá, ba con Lượm, mới đi. Chữ
“đi” bây giờ rất là phổ thông, sau khi cộng sản chiếm miền Nam, nhất là trong xóm
ven biển này. Chỉ mỗi một chữ “đi” ngắn ngủi ấy, nó kể lại cả một chuyện dài đầy
nước mắt. Nước mắt của người đi cùng người ở lại; và cho dù người ra đi có tìm đến
được bến bờ tự do, hay ra đi mà không bao giờ đến.
Trạm thu mua không phải lúc nào cũng là nơi an
bình, vui vẻ. Chỗ trống trên trạm cũng từng là nơi của công an dùng để giam giữ,
để lục xét các nạn nhân trên tàu vượt biên, không may bị chúng nó bắt được. Những
lúc ấy thì ồn ào lắm, mà xót xa lắm. Không ai muốn chứng kiến đồng bào mình bị
tra tấn. Sàn nhà rung chuyển. Không gian náo loạn. Trạm đầy ấp người. Công an,
lính võ trang ở địa phương hung bạo la hét, xoay quần những người bị bắt. Thuyền
nhân xác xơ, tay bị trói, ngồi co ro, mắt sợ hãi nhìn những khuôn mặt vênh váo
khoái trá đang ghìm mũi súng với lưỡi lê đầy hăm dọa. Thêm một dịp, những kẻ
xưng danh “quân đội nhân dân” và “công an nhân dân” cùng chia chát tiền vàng cướp
được, vừa lập công với đảng, dâng thành tích lùng bắt những "thằng phạm",
"con phạm" vượt biên.
Chữ nghĩa của cộng sản gọi đồng bào mình như thế
đấy!
Thế đấy, đồng bào đã "phạm" cái tội
mà cái đảng và bạo quyền cộng sản rất là căm thù cấm kỵ, đấy là "tội"
đi tìm Tự Do!
. . .
Hồi ký của một linh mục Dòng Jesuit, người trước
đây từng phục vụ ở vùng Đông Dương và đã quay lại để giúp các thuyền nhân, cung
cấp một tường thuật sinh động về tình trạng vô cùng bi thảm tại một trại tỵ nạn
ở gần bãi biển của Thái Lan:
“Mỗi buổi sáng, khi
chúng tôi đi xuống các bãi biển, sẽ có những thi thể - đàn ông, phụ nữ và trẻ
em – trôi dạt vào bờ trong đêm qua. Đôi khi, có đến hàng trăm xác người, trông
như những mảnh gỗ trên bãi biển. Trong số xác người đó, có nhiều cô gái đã bị
hãm hiếp sau đó ném xuống biển để rồi chết đuối. Bi thảm tột cùng mà ngôn từ
không thể nào kể lại được ... Đôi khi,
cũng có người, với một phép lạ nào đó, họ vẫn còn sống sót. Họ nằm trên bãi biển
vì kiệt sức hoặc bất tỉnh. Họ trôi dạt vào bờ trong đêm, chúng tôi đã giúp họ hồi
sinh và chăm nom họ, khi chúng tôi tìm thấy.
Tất nhiên, thời tiết
đã gây nhiều tai hại cho thuyền nhân. Có nhiều chiếc thuyền vượt biển thật nhỏ
bé, mong manh, tồi tàn. Cũng có nhiều khi, người tỵ nạn bị nhà cầm quyền Việt
Nam bắn chận và kéo tàu họ về Việt Nam, những người phạm tội vượt biển còn sống
sót thì bị tù đày. Thế nhưng, thảm nạn cướp biển có lẽ là nguyên nhân trầm trọng
nhất, trong các vụ giết người. Bọn cướp biển chận bắt gần như tất cả ghe thuyền
vượt biên. Trước tiên, chúng nó tìm kiếm vàng, thậm chí còn tàn bạo đến mức kéo
cạy lấy vàng bọc răng từ trong hàm răng của mọi người. Điều tiếp theo thu hút
chúng nó, chính là những cô gái trẻ. Những tên cướp biển lo ngại bị bắt, và
cách tốt nhất để không bị bắt với tang chứng là phá hủy chiếc thuyền và giết hết
tất cả những người mà chúng đã hãm hại, và thậm chí chúng nó còn ném các cô gái
xuống biển, khi đồng bọn đã thỏa mãn ... Sau đó, các thi thể thuyền nhân bị cuốn
trôi vào bờ biển hoặc chỉ chìm mất vào trong lòng biển.”
Đoạn hồi ký trên được trích từ trang 105 &
106, trong quyển Running On Empty, Canada and the Indochinese Refugees,
1975-1980, cùng biên soạn bởi các tác giả Michael J. Molloy, Peter Duschinsky,
Kurt F. Jensen, và Robert J. Shalka. Đây là một bộ tài liệu lịch sử dày đến 582
trang, được biên soạn rất công phu. Trong đó, có ghi lại biết bao chuyện thương
tâm về người tỵ nạn cộng sản tại Đông Dương, về thuyền nhân Việt Nam. Những thảm
cảnh đã được thế giới biết đến và gọi là “Asian Holocaust”; như thời Holocaust,
1941-1945, khi người Do Thái bị quân Nazi lùng bắt và tàn sát. Trang 112 có một
tường thuật về chế độ man rợ của cộng sản như sau:
“Vào cuối tháng Mười Hai năm 1978, có gần
200.000 người tỵ nạn trong các trại tạm cư trên khắp Đông Nam Á …
Các phương tiện truyền thông trên toàn thế giới
có đăng tin về những hành động và thái độ vô nhân đạo của bạo quyền Việt Nam đối
với thuyền nhân. Thời báo New York Times đã kể lại một câu chuyện thật, thật kinh
hoàng:
Các nguồn tin chính
thức của Philippines hôm nay cho biết rằng quân đội cộng sản Việt Nam đã giết
85 người tỵ nạn người Việt, trong đó có 45 trẻ em, khi thuyền đánh cá của họ mắc
cạn ... trên một hòn đảo ở Biển Đông. ... 8 người may mắn sống sót sau vụ thảm
sát ngày 22 tháng Sáu này và cuối cùng trôi dạt đến được đất liền và ẩn náu ở
Philippines ... Tài liệu đáng tin cậy đã cho biết quân đội cộng sản Việt Nam đã
nổ súng vào chiếc ghe của người tỵ nạn bằng súng cối, súng máy và các thứ vũ
khí tự động."
Theo Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc, khoảng
200.000 đến 400.000 thuyền nhân đã chết trên biển.
Bao chuyện thương tâm của thuyền nhân Việt Nam
đã được nghe biết. Hãy còn biết bao nỗi hãi hùng, đã theo thân xác của người vượt
trốn chế độ cộng sản, vùi chôn trong rừng hoang hay dưới đáy biển. Biết bao
chuyến đi đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Họ ra đi mà không bao giờ đến!
Người ta không thể quên, nhưng với lòng nhân từ,
có thể tha thứ cho bọn cướp biển; họ chỉ vì ham muốn nhục dục, lòng tham nhất thời
mà gây nên tội ác. Trái lại, chính sách bất nhân của chế độ cộng sản man rợ, đối
với đồng bào mình, thì cả dân tộc phán quyết và sử sách muôn đời khắc ghi.
Chuyện người, như chuyện mình, như sóng uất hờn
muôn đời còn cuộn dậy trên Biển Đông.
Chiều nay, xóm biển sau lưng tôi lại xót xa
đau, mong chờ tin người đã ra đi!
“Chiều ra biển đứng
ê chề
Tìm trên ngọn sóng…
có về xác em
Vớt rong rêu… ngỡ
tóc mềm
Quay về hướng gió…
tưởng em thơ dại
Tìm trong bọt trắng…
thân người
Nghẹn ngào dấu vết
còn phơi lõa lồ
Xác em… nay ở phương
nào
Tấp sang đất Thái
hay vào Nam Dương
Có khi xác vượt
trùng dương
Trôi về Bắc Mỹ trách
hờn người yêu
Biển lớn cuốn em đi…
Biển lớn cuốn em đi…
Rời xa, rời xa,… rời
xa mãi!
Biển ơi, trả cho ta...
Biển ơi, trả cho ta...
xác em yêu!... xác
em yêu!
Chiều ra biển đứng
ngậm ngùi!
Nhớ em và… nhớ cả trời
Việt Nam!” *
Bùi Đức Tính
……………………………………………………………………………
* Xác Em Nay Ở
Phương Nào - Thơ: Ngọc Khôi
Saturday, January 11, 2020
Sunday, November 17, 2019
Tuesday, October 29, 2019
Subscribe to:
Posts (Atom)




















