Thursday, April 16, 2020

Thơ


    Trai Thời Loạn




Bốn mươi năm rồi tôi mất Nước
Sống nửa đời lưu lạc kiếp tha Hương
Buồn làm sao “trăm nhớ ngàn thương”
Giờ tất cả…chỉ còn trong kỷ niệm!
Bốn mươi năm rồi, tôi xin uỷ nhiệm,
Mộ song đường tẻ nhạt ánh khói hương,
Mái nhà xưa bao ấp ủ yêu thương…
Vòng tay mẹ….vấn vương hồn lữ khách
Bốn mươi năm rồi “nghìn trùng xa cách…”
Mái nhà xưa, phên vách đã rã rời,
Nắng mưa nhiều cây lá chắc tã tơi…
Con nước lũ, cuốn tơi bời làng mạc!
,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,
Quê tôi đó, bây giờ rời rạc…
Xóm làng xưa, giờ lắm đổi thay,
Người em tôi còn có miệt mài…
Hay cũng đã….tung bay về thành phố?
Bốn mươi năm rồi, rời xa Đất Tổ
Ban bè xưa, giờ cũng đã đổi thay,
Đứa ra đi, thân viễn xứ lạc loài….
Đứa ở lại, tháng năm dài cay đắng!
……………………………………….
Tôi nhớ lại, những ngày gay gắt nắng,
Tiếng ve sầu, báo hiệu sắp chia tay
Hè năm nao..ôi! Sao nó thật dài
Bởi tôi đã….không bao giờ trở lại!
Hẹn lần cuối chia tay người em gái:
“Anh lên đường, em ở lại bình yên,
Vui đi em, đừng vương vấn ưu phiền,
Trai thời loạn, bút nghiêng đành xếp lại”.
Em nức nở…làm lòng tôi ái ngại,
Em nghẹn ngào…trao chiếc khăn tay,
Dù xa nhau, bao tháng năm dài…
Tên hai đứa vẫn không phai màu chỉ.
Rồi từ đó, thành người trai dạn dĩ,
Xong quân trường, lon Chuẫn Uý trên bâu,
Về thăm em, khi có phép lần đầu,
Nhưng em đã….tìm đâu không thấy?!
Tôi đau xót…kể từ hôm ấy….
Tôi âm thầm, giử kín chiếc khăn tay,
Tôi xông pha trận chiến miệt mài,
Tôi chiến đấu, không mải mai sợ chết
Tôi vẫn biết, chuyện tình mình đã hết,
Tôi tìm quên bên chén rượu men nồng,
Tôi đau buồn, nhã khói chốn hư không,
Tôi chôn chặt, bóng hình người em gái,
Tôi cố quên, nhưng lòng vẫn tê tái
Mượn thời gian…làm thoải mái tâm hồn
Có những chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tôi gối súng, thả hồn về chốn củ…
Tôi mơ thấy …em ngồi ủ rủ…,
Ánh mắt buồn như bao phủ sầu thương,
Em nghỉ gì, hay cũng vẫn vấn vương…?
Hình bóng củ, của người thương năm trước.
Người em hỡi! Có bao giờ em mơ ước,
Găp lại người thương…vô phước năm nào
Đã một lần, mình ước hẹn đổi trao,
Dù sóng gió…cũng không lay chuyển.

Trần Vĩnh Tam
{Một chuyện tình của hơn năm mươi năm trước, 
và bài thơ nầy tôi viết vào Tháng Tư Đen năm 2015
để kỷ niệm 40 năm rồi tôi “mất Nước” ! }


Đất & Nước
Đất ơi! Đất ở nơi đây
Sao cây tươi tốt, hoa đầy, ngát hương
Người ơi! Người ở nơi đây
Đầy lòng nhân ái, chan hoà yêu thương.
Nhìn vê chốn ấy Quê Hương
Đất thì cạn kiệt, phù sa không còn.
Lòng nhân cũng đã hao mòn
Tranh danh đoạt lợi, chẳng còn lương tâm
Đất ơi! Đất đã chọn nhầm
Đất nuôi một lũ “sen đầm Bắc Phương”
Bọn nầy bán đứng Quê Hương
Bán luôn Đát Mẹ đau thương ngập tràn!
Nước ới Nước tận phương ngàn
Nước trong, tinh khiết…muôn vàn phù sa.
Giờ đây Nước phai kêu la
Nước đang nhiễm độc, dân ta luỵ phiền!
Nước xưa nuôi đám dân hiền
Nước nuôi cây lúa, xóm giềng no cơm,
Nước còn mang lại mùi thơm
Hàng ngày tắm giặt, đơm cơm nuôi người
Nước ơi! Nước vẫn muôn đời
Giúp cho nhân thế đổi dời đó đây…
Nước còn biến đổi thành mây
Tưới lên vạn vật, cỏ cây xanh màu.
Nhân sinh ai nở lòng nào
Nước kia ô nhiễm, biết bao luỵ phiền…
Trách ai gây cảnh oan khiên….
Nước Non tan nát…triền miên não lòng!



Trần Vĩnh Tam

Tuesday, April 14, 2020

Còn Thương Quê Hương Tôi




“Còn sống…
 tôi còn khóc,
tôi còn thương quê hương tôi!”*

- Quý ơi… Quý!
Tiếng người đàn bà vang lên từ bên trong xóm nhà gần bờ biển.
Không nghe con ơi hỡi vâng dạ chi cả. Chị bỏ sàng tôm khô trên khạp nước, rồi bước ra con đường đất nhỏ. Đưa bàn tay lên che nắng. Chị nheo mắt nhìn ra biển, rồi hướng về mấy đứa trẻ con chòm nhom chơi “tạt lon” ở ngoài đầu xóm gọi lớn thêm lần nữa.
- Quý ơi… Quý!... Ba mầy dìa kia kìa!
Trò chơi “Tạt lon” giản dị, chỉ cần cái lon, chiếc dép và chút ít khoảng trống. Dùng gạch vụn hay phấn kẻ thành vòng tròn, hoặc vuông chừng hai gang tay, làm dấu cho chỗ đặt cái lon. Từ chỗ cái lon phóng chừng 4, 5 bước dài, vạch một đường ngang làm mức đứng để tạt lon. Khởi đầu, ai chơi thì đứng ở khung kẽ của lon thảy chiếc dép của mình về vạch ngang này. Dép đứa nào gần vạch nhất được phần tạt trước. Ngược lại, dép đứa nào xa vạch nhất sẽ phải làm đứa canh giữ cái lon. Nhiệm vụ giữ lon, coi vậy chứ cực và bực lắm, như là một hình phạt. Mấy đứa được phần tạt lon, hớn hở chạy đứng chỗ vạch ngang và lần lượt dùng chiếc dép của mình tạt mạnh về hướng cái lon, sao cho dép trúng lon, làm cho nó bị văng ra khỏi khung kẻ, càng xa càng tốt. Mỗi khi lon bị tạt văng ra ngoài vòng, lăn lon con, đứa giữ lon phải chạy theo lon mà lượm đem về đặt lại chổ cũ ngay, đồng thời phải lẹ mắt, lẹ chân và lanh tay mà rượt và tìm cách chạm vào người đứa đi lượm chiếc dép của mình, trước khi nó nhặt xong chiếc dép chạy được về phía sau vạch; không bắt được ai để thế mình thì cứ giữ lon và chạy lượm lon tiếp tục. Hễ bị đứa giữ lon chạm trúng người, thì phải thế chỗ, làm kẻ giữ lon. Cứ thế, sau tiếng lon bị tạt trúng lăn lon con, lóc cóc, là tiếng chân chạy huỳnh huỵch, là rộ lên tràng reo la, cười đùa, trêu chọc của bên thắng cuộc. Cuộc chơi của trẻ thơ hồn nhiên vang inh ỏi cả một góc xóm. “Tạt lon” không nhất thiết chỉ dành cho bọn con trai, mấy đứa con gái cũng tham dự; tiếng cười la trong trẻo của con gái hình như vang xa hơn mấy đứa trai.

Tôi phải công nhận con Nhí tạt lon rất hay, hay hơn con Lượm và hay hơn cả bốn đứa con trai trong nhóm. Nó không chọi mạnh như mấy đứa con trai. Bọn con trai, nhún nhún, nhảy nhảy, tung người lên, cứ thẳng cánh tay mà tung chiếc dép tới; thường thì trớt quớt, chiếc dép bay xẹt qua cái lon, nằm công kênh tuốt ngoài xa. Mấy đứa chọi trật, chạy lên đứng lóng nhóng bên chiếc dép thua cuộc của mình, chờ cơ hội từ con Nhí, đứa duy nhất trong nhóm còn chiếc dép trên tay. Con Nhí đã thấp nhỏ, nó còn khom khom xuống, tay cầm chiếc dép nằm ngang, dí dí đằng trước mắt mình vài cái định hướng cái lon, rồi vung tay, phang chiếc dép. Vụt một cái. Cái lon bị chiếc dép tạt ngang, văng ra khỏi vòng cả thước, rồi lăn ton ton thêm một lúc, nghe thật vui tai. Con Nhí lẹ lắm, nó lắt choắt, phóng cái vèo lên ngay sau chiếc dép, khòm lưng lượm chiếc dép chạy về phía sau. Thằng Quý chạy lượm cái lon vừa đặt xuống vị trí, vừa ngó tìm con Nhí, thì “bang” con Lượm lợi dụng thẳng Quý chạy theo cái lon, lượm chiếc dép chạy về phía trên mức, thừa cơ hội phang chiếc dép. Cái lon lại bị tung lên, lăn lóc cóc. Thằng Quý lại lịch phịch chạy đuổi theo cái lon. Tiếng chân nó nặng nề. Nó mệt lắm rồi. Đám con trai lột trần trùi trụi. Thằng Quý đổ mồ hôi, lưng nó ướt đen bóng, mặt quạo đeo, vừa chạy lượm lon vừa quơ quào hốt đại theo bóng mấy đứa thừa cơ hội nhặt lấy dép mà chạy ùa về. Đã vậy, thằng Sữu và đám con trai chạy về mức hết, còn nhảy lưng tưng làm trò chọc thằng Quý. Thằng Quý chạy lượm cái lon, tay đập mạnh cho nó đứng giữa vòng tròn xong, mắt lườm con Nhí:
- Không cho con gái chơi tạt lon!
Con Nhí biết nó nói mình, chứ không phải nói con Lượm. Nó không chịu thua:
- Ơ… Hồi giờ… có ai cấm con gái chơi tạt lon đâu?
- Tao cấm đó!
- Vậy chứ… hồi nãy, đứa nào theo năn nỉ con Lượm với tao…?
Thắng Quý bị bắt giữ lon lâu quá nên mệt. Mệt nên đổ quạu, rồi nói càn, giờ thì ấm ớ, mắc cở lắm; nó chưa biết phải trả lời sao thì con Nhí lại đàn áp nó:
- Xí í í í!
Con Lượm được thế, phụ họa với con Nhí, hất mặt, “Xí” thêm một cái dài không kém và kèm theo cái nguýt cũng dài thậm thượt. Dù muốn bênh thằng Quý lắm, đám con trai cũng ậm ừ nín chịu.  

- Quý ơi là Quý!... Tàu dìa!
Trong thoáng yên lặng ấy, con Nhí nghe mẹ thằng Quý gọi, bèn kêu lên:
- Tàu dìa!
Nghe mấy chữ “tàu dìa”, cả đám khựng lại, ngó ra biển. Rồi bọn trẻ nhảy tưng tưng vui mừng:
- Tàu dìa!... tàu dìa! tàu dìa!... tàu dìa!...
Đám trẻ ngưng chơi tạt lon, quên mất chuyện cãi vã nhau, bỏ cái lon đứng chơ vơ trong vòng tròn, cùng ùa chạy ra cầu tàu, đón tàu về.
Mấy chiếc tàu đánh cá vào cận bờ, động cơ giảm tốc độ, tiếng máy nghe phành phạch vang dội một lúc rồi thưa thớt dần.

Trời về chiều đã tắt nắng.
Nghe tiếng đám trẻ con gọi nhau “tàu dìa!” và kéo nhau chạy ra cầu tàu, chị Thà ngó thấy trong đó có thằng Quý, con của chị. Chị Thà có vẻ vừa ý, thôi, không gọi nữa, quay vào trong nhà.
Sực nhớ mớ tôm của mình, chị đi ra cửa để lấy sàng tôm khô phơi nắng trên khạp nước từ hồi sáng, bưng nó đem vào bên trong nhà.
Từ giống tôm đất thiên nhiên đến cách luộc và phơi đã làm cho tôm khô Cà Mau được ưa chuộng lắm. Con tôm luộc nước thật sôi một lúc rồi mới cho muối vào luộc tiếp, sau đó mới đem ra phơi nắng; nắng mặt trời vùng đất mũi, tận cùng ở cuối phía Nam.
Thế nhưng, mớ tôm của chị là loại quá nhỏ, nhà cầm quyền chê, không thèm thu mua. Sau khi phơi vài vắng, con tôm đã nhỏ, càng teo rút nhỏ lại thêm, lớn hơn hạt cơm đôi chút. Tuy nhỏ, nhưng nhỏ hay lớn gì cũng vậy, giống tôm đất vùng biển, luộc chín và phơi khô bằng nắng miền biển, có màu đỏ au, thịt khô chắc nhưng mềm ngon trong miệng và hương vị thơm ngon rất đặc biệt. Nhiều món ngon miệng, bắt mồi từ tôm khô của vùng này: cơm cháy tôm khô kho quẹt, tôm khô củ kiệu, gỏi xoài xanh tôm khô, gỏi cóc chua cay, …

- Mẹ!...
Có tiếng thằng Quý gọi. Chị quay lại. Thằng Quý đứng tần ngần trước cửa, tay cầm đôi dép, tay xách cái thùng đựng mớ cá vụn, nhìn chị mà ấp úng.
- Gì đó?.... Bỏ thùng cá ngoài sàn nước, rồi đi rửa chân, mang dép vô, chiều tối rồi!... Ba đâu?
- Còn dưới bến…
- Mần gì dưới?
- Ba mắc “mần việc” với công an…
- Cái gì?!...
Chị Thà để cái sàng tôm lên bàn, quày quã rời nhà, đi xuống bến. Chị lo quá, không biết chồng mình phạm cái tội gì mà bị công an “mần việc”. Thằng Quý bỏ đại thùng cá xuống, hai tay cầm hai chiếc dép lẽo đẽo theo mẹ:
- Nghe nói… ghe nhà con Lượm… nghe nói… Ba nó đi rồi!
Chữ “đi” mà thằng Quý mới nói, bây giờ rất là phổ thông, sau khi cộng sản chiếm miền Nam của chị, nhất là trong vùng ven biển này. Chỉ mỗi một chữ ngắn ấy, nó kể lại cả một chuyện dài đầy thương tâm; cho dù người ra đi có đến được bến bờ tự do hay ra đi mà không bao giờ đến. Nó báo cho những người còn lại phải khôn hồn mà tránh liên lụy. Kinh nghiệm sống dưới cái chế độ cộng sản này là như vậy. Không nghe, không nói, không thấy, không biết gì hết vẫn có lợi hơn cho mình. Mấy cái vụ “đi” này không lạ gì với chị, cũng không phải là lần đầu xảy ra trong cái xóm biển này. Nghe thằng Quý nói vậy, chị Thà khựng lại, cầm tay thằng Quý, quay trở về nhà:
- Thôi,... đi dìa!
- Mình không xuống bến với Ba à?
- Xuống mần chi!
Chị biết chồng chị có thừa kinh nghiệm để đối phó với mấy cái vụ “mần việc” của bọn công an về vụ ghe và ngư phủ trong đoàn đã vượt biển. Thằng Quý không biết tại sao mẹ nó không còn muốn xuống bến, nhưng nhìn mặt mẹ nó nghiêm trọng quá, nó không dám cãi lời hay hỏi han chi thêm. Rồi trong phút chốc, nghĩ lại tội nghiệp thằng Quý, chị buông lơi tay con, vói tay lấy đôi dép và cầm cho con; chị dịu giọng:
- Dìa nhà, Mẹ tắm rửa cho con, rồi ăn cơm… Chút Ba dìa.


Mấy chiếc thuyền đánh cá nhỏ cột trên bến, nhấp nhô in mình trên ánh đỏ thẫm của hoàng hôn. Ba người mặc đồng phục công an kéo nhau về trạm. Mấy người đánh cá trong xóm, ra khơi đánh cá với ba của con Lượm hồi sáng sớm, giờ cũng lục đục tản hàng, mạnh ai nấy về nhà.
Đi ngang ghe tôi, anh Thà dừng chân, đưa cái thùng nhựa trên tay lên:
- Hốt một mớ ăn cơm!
Tôi tuột xuống phía sau ghe, lấy cái thau và đi ra mũi ghe. Anh Thà vói lấy cái thau, xúc và đưa lên cho tôi một thau đầy vun mực ống nhỏ lẫn lộn các thứ cá vụn vặt chưa lựa ra.
- Cám ơn anh Thà nghen.
- Ơn nghĩa gì… chút đỉnh vậy mà!
- Anh cho nhiều quá vậy.
- Tui còn đây nè, lo gì…
Dân đánh cá bây giờ nghèo hơn, sống chật vật hơn. Họ không còn được phép bán cá của mình như hồi còn sống trong chế độ tự do; bây giờ, hải sản kiếm được bị cái gọi là “nhà nước” thu mua, các thứ đáng giá. Chế độ cộng sản làm cuộc sống họ thêm khó khăn, nhưng không thay đổi được bụng dạ chất phát và tình người chan hòa của dân làng miền Nam.  
- Lựa cá ra kho là đủ ăn cơm rồi… Chắc tụi tui phơi nắng một mớ mực, hôm nào chạy xuống đây, mình lai rai!
- Ừa… tối nay dìa hả…
- Dà, nhân viên trạm ướp đá tôm rồi xuống hàng xong, thì tụi tui dìa.
- Rồi… có chuyến, chạy ghe xuống đây… mình nhậu!  
Anh Thà cười hề hà hứa hẹn rồi xách cái thùng lên:
- Thôi. Tui dìa… để bả trông.
Tôi không hỏi và anh Thà cũng không nói; ai cũng biết không nên bàn nhắc về chuyện trốn đi của anh Bá, ba của con Lượm, trong lúc này. Nhưng trong anh và tôi cũng đều cầu mong cho chiếc ghe đánh cá bé nhỏ của ba con Lượm đến bến bờ tự do bình an. Bây giờ, ai cũng mong có cơ hội thoát đi được như anh Bá. Chúng tôi cũng muốn trốn đi từ hơn năm nay rồi. Anh Thà chắc cũng mong trốn đi cùng với chị Thà và thằng Quý. Nhưng thoát đi một mình đã khó, mang vợ con xuống ghe để theo cùng thì không phải dễ, càng khó hơn gắp bội phần. Tội nghiệp chị Bá và con Lượm chắc khóc vùi lúc này. Anh Bá thoát đi được, thì chị Bá và con Lượm còn có cơ hội sang với anh và được làm người tự do.  

Con chim hải âu muộn màng, đơn độc chao lượn gọi đàn. Những tia nắng cuối cùng của ngày loáng thoáng, lấp lánh trên mặt sóng. Bến tàu thưa vắng, không còn tàu thuyền ra khơi hay trở về bến. Chỉ trong vài phút ngắn, mặt trời đã khuất hẳn. Ngày tàn. Đêm đen phủ trùm. Ngày mai trời lại sáng trên biển. Nhưng đêm đen của cộng sản bạo tàn vẫn còn phủ trùm trên quê hương tôi.

“Triền miên, giông bão biển Đông thét gào
Cuốn đi cánh hoa đào, dạt trôi nơi nao
Trùng dương như khóc, như than cho đàn con
Biển sâu là mộ chôn, con ơi, ôi đoạn trường!
Trời đêm sao rơi, nước mắt ôi long lanh
Khổ đau không vơi, tóc đã phai màu xanh
Xa nhau mãi từ đây, chia ly mãi từ đây
Yêu thương và nhung nhớ dâng tràn đầy
Sương bao phủ đầy trên quê hương khổ ải
Yên vui giờ đổi lấy lầm than, kiếp đọa đầy!
Mịt mờ hôm nay, nào ai biết tương lai!

Còn sống, tôi còn khóc, tôi còn thương quê hương tôi
Còn sống, anh còn nhớ, anh còn thương em ơi
Còn sống, ba còn nhớ, ba còn thương con ơi” *

Bùi Đức Tính

……………………………………………………..
* Lời nhạc “Lưu Đày”, sáng tác: Lê Minh Đảo

Monday, April 13, 2020




Cái máy phát điện khởi động sình sịch mấy tiếng ngắn rồi chạy đều. Bóng đèn trên trạm thu mua nối nhau bật sáng lên. Trong bóng đêm, nhà lưa thưa, đèn vàng leo lét, gian nhà sàn bây giờ phựt sáng. Ánh đèn sáng choang một góc xóm biển. Cơm chiều xong, công nhân tụ lại làm việc, chuẩn bị để chuyển hàng xuống ghe. Tiếng thùng kéo lôi, thảy nện trên sàn nhà, tiếng cười, tiếng nói, gọi nhau ồn ào. Gian nhà này dùng làm nơi nhận và chuyển hàng. Không có hàng lên, hàng xuống, hay không có ai bày ra ăn nhậu, thì nơi này thường vắng vẻ lắm; thỉnh thoảng mới có người ra ngồi hút thuốc, nhìn sóng đùa cùng biển nước một lúc, rồi cũng bỏ đi.
Có một văn phòng nhỏ, kế bên là kho chứa và giữ lạnh cho các cây nước đá, cùng các thùng tôm đã ướp lạnh. Chính giữa chừa trống, để có chỗ cho các thứ công việc chính như: thu nhận nước đá, hải sản, vô thùng, chuyển hàng xuống ghe… Cái máy xay giờ được kéo ra khoảng trống, gần bên cửa kho. Tiếng máy chạy rầm rĩ. Mỗi lần nó ngốn cây nước đá khua nghe rổn rảng, inh ỏi. Tôi lấy cái thùng xô, bước lên trên trạm. Chú Miên, công nhân chạy máy, hiểu ý ngay, cười tươi:
- Nước đá?
Hỏi để hỏi, để chào hỏi. Miệng hỏi tôi, tay chú Miên đã đón lấy cái thùng đưa ngay vào máy và hứng nước đá. Soạt cái là được nửa thùng. Chú Miên lấy tay ém đá xay xuống, rồi hứng tiếp.
- Dà, lưng thùng được rồi chú!
Tôi nói xong thì thùng xô đã đầy. Chú Miên đưa lại cho tôi:
- Kệ nó, nhầm nhò gì
- Cám ơn chú… anh Thà cho mớ cá với mực hồi chiều, tính để sáng mai mới mần…. Sắp xuống hàng chưa chú?
Tôi giải thích cho có chuyện để nói; không ai thèm thắc mắc với vài xô nước đá. Chú Miên hất mặt hướng về hàng thùng đã đậy nấp, sẵn sàng chuyển xuống ghe, và chừng hơn một lố còn mở nấp, chờ ướp thêm đá xay:
- Gần xong rồi, … còn hơn chục thùng gì đó thôi!
Tôm thu mua từ mấy hôm trước, được cho vào thùng và ướp lạnh ngay, để giữ cho tươi trong kho. Khi đến hạn, hoặc đủ số lượng chuyển về công ty; trước khi xuống hàng, thùng tôm được mở ra để kiểm lại, rồi đổ thêm nước đá mới xay cho đầy thùng, cùng lúc với số tôm mới thu mua trong ngày.
- Ngon lành…. Tụi tui chuẩn bị để xuống hàng!
Tôi cám ơn chú Miên thêm, rồi đi trở về ghe.
Ngó Vũ đang đứng ngóng tin bên trên mui, tôi vui vẻ báo tin:
- Sắp xong!

Nằm chờ cho đủ hàng ngoài trạm thu mua chán lắm; vừa buồn vì không có chuyến chở hàng, vừa buồn vì ngoài này buồn lắm. Gì chớ, có hàng, có chuyến chạy và được chạy về thành phố thì vui rồi. Vũ cũng vui lắm, chỉ chờ nghe vậy, tuột ngay xuống mui cho máy chạy, rồi mở đèn lái trên mui và các đèn trong khoang ghe, để công nhân chuyển hàng xuống. Tôi dọn dẹp khoang ghe; chỉ cần kéo gom mấy tấm bạt ra phía sau, thế là lòng ghe trống ngay. Ba mươi sáu thùng tôm. Chất ba thùng ngang, chừa lối đi hai bên trong lòng ghe, hàng dọc để sáu thùng; chỉ cần hai tầng là xong. Vẫn còn nhẹ, so với trọng tải 15 tấn của ghe. Được trả tiền theo chuyến. Mình cầu cho ít hàng, nhẹ ghe, dễ lái, ít hao dầu. Nhiên liệu là một trong các thứ cần thiết hàng đầu, khi trốn đi. Nhầm những lúc biển động, thu mua ít tôm, thì “nhà nước” phải chịu. Họ không thể neo ghe vận chuyển, hay giữ tôm tồn kho lâu ngày, tôm sẽ bị hư. Công nhân trên trạm và hai đứa tôi, phụ nhau chuyển các thùng hàng xuống ghe, chỉ một lúc ngắn thì xong. Vũ và tôi lấy mấy tấm bạt, phủ trùm lên khối thùng tôm sắp gọn giữa lòng ghe, cho kín gió, giữ đá chậm tan. Xong, Vũ vào trong mui ghe sẵn sàng điều khiển máy, tôi leo lên mũi ghe đi lên trạm để tháo dây.
Như thông lệ, xuống hàng xong, thì dọn dẹp và kế đến, ít nhiều cũng có… lai rai, để giải lao. Tối nay, không phải vô nhiều thùng tôm mới. Chỉ cần chuyền vài thùng nước biển lên, dọn rửa nước tôm trên sàn nhà, là xong việc. Cái máy xay nước đá đã được kéo dẹp vô vách kho hàng. Phía trong sàn nhà, nơi còn khô ráo, nhóm công nhân đang bao quanh cái bàn nhỏ có mớ mực khô và chai rượu trắng. Thấy tôi, anh Bền ngồi bên ngoài, cầm cái ly trên tay, bóc miếng mực khô, nhanh nhẹn đứng dậy đi xuống cầu tàu, gọi lớn:
- Để đó đi!... tui mở dây cho mà!... Nè!.. làm miếng cho ấm!
Tôi vói tay đón lấy miếng khô mực và ly rượu, cho anh Bền rãnh tay tháo dùm đầu dây cột trên trạm.
Luật bất thành văn, “làm (một) miếng” cũng có nghĩa là cạn ly. Rượu trong veo, “nước mắt quê hương” đấy, lấp lánh, sóng sánh ngang đường ngấn của ly “xây chừng”. Tôi cám ơn anh Bền và đưa ly hướng về nhóm công nhân trong bàn: “Dzô!”
Tôi uống cạn cái “xây chừng”, cho cạn tình, cạn nghĩa.
Anh Bền tháo dây, cuộn tròn và thẩy xuống mũi ghe.
Tôi cám ơn anh Bền và vẫy tay từ giả chung:
- Tụi tui dìa nghen!
Quấn nhanh sợi dây, tóm cho gọn chặt vào mũi ghe. Tôi kéo cây sào lên, chống đẩy cho mũi ghe xoay hướng ra ngoài lòng sông. Chiều tối, sông và biển trống vắng như lúc này; mình tắt máy, làm như ghe hư máy, cứ để dòng nước đưa dần ra ngoài khơi... Tôi nuối tiếc, quay về với thực tại và chạy nhanh lên mui ghe để giữ cần lái. Chờ tôi cầm lấy cần lái, Vũ đạp “embrayage” và tay gài cần số cho ghe chạy tới; điều khiển cái động cơ John Deere của ghe, giống như nó còn đang chạy chiếc máy cày. Chân vịt khởi động, đạp nước phùn phục. Sức đẩy cuộn vòng thành sóng, đập mạnh vào bánh lái. Cần lái rung động trong lòng bàn tay, cùng rung động, lao chao, thúc dục trong lòng tôi. Tôi ngước nhìn biển khơi. Biển của tôi đây. Biển của ước mơ đang rộng mở, đợi chờ. Tự do trong tầm mắt, nhưng xa quá, hãy còn ngoài tầm tay. Tay kéo tăng dần tốc độ máy, tay đẩy nhanh cần lái sang phải; tôi đưa chiếc ghe khẻ nhóng mũi lên và nghiêng mình quanh vòng sang trái, để chạy trở về thành phố.
Sau lưng tôi, đèn trên trạm thu mua rồi cũng mờ khuất trong màn đêm. Biển khơi lùi xa dần. Biển của tôi rất thật, thật gần, nhưng còn ngăn cách. Mỗi lần quay tàu trở về, tôi bồi hồi, nao nao; cứ quay nhìn biển khơi sau lưng, lòng đầy nuối tiếc. Hơn một năm rồi. Ra đến biển, nhìn đại dương mênh mông, mong chờ, để rồi lại quay trở vào. Cái nao nao, bồi hồi hôm nay càng thêm bồn chồn với chuyện ghe của anh Bá, ba con Lượm, mới đi. Chữ “đi” bây giờ rất là phổ thông, sau khi cộng sản chiếm miền Nam, nhất là trong xóm ven biển này. Chỉ mỗi một chữ “đi” ngắn ngủi ấy, nó kể lại cả một chuyện dài đầy nước mắt. Nước mắt của người đi cùng người ở lại; và cho dù người ra đi có tìm đến được bến bờ tự do, hay ra đi mà không bao giờ đến.
Trạm thu mua không phải lúc nào cũng là nơi an bình, vui vẻ. Chỗ trống trên trạm cũng từng là nơi của công an dùng để giam giữ, để lục xét các nạn nhân trên tàu vượt biên, không may bị chúng nó bắt được. Những lúc ấy thì ồn ào lắm, mà xót xa lắm. Không ai muốn chứng kiến đồng bào mình bị tra tấn. Sàn nhà rung chuyển. Không gian náo loạn. Trạm đầy ấp người. Công an, lính võ trang ở địa phương hung bạo la hét, xoay quần những người bị bắt. Thuyền nhân xác xơ, tay bị trói, ngồi co ro, mắt sợ hãi nhìn những khuôn mặt vênh váo khoái trá đang ghìm mũi súng với lưỡi lê đầy hăm dọa. Thêm một dịp, những kẻ xưng danh “quân đội nhân dân” và “công an nhân dân” cùng chia chát tiền vàng cướp được, vừa lập công với đảng, dâng thành tích lùng bắt những "thằng phạm", "con phạm" vượt biên.
Chữ nghĩa của cộng sản gọi đồng bào mình như thế đấy!
Thế đấy, đồng bào đã "phạm" cái tội mà cái đảng và bạo quyền cộng sản rất là căm thù cấm kỵ, đấy là "tội" đi tìm Tự Do!

. . .
Hồi ký của một linh mục Dòng Jesuit, người trước đây từng phục vụ ở vùng Đông Dương và đã quay lại để giúp các thuyền nhân, cung cấp một tường thuật sinh động về tình trạng vô cùng bi thảm tại một trại tỵ nạn ở gần bãi biển của Thái Lan:
“Mỗi buổi sáng, khi chúng tôi đi xuống các bãi biển, sẽ có những thi thể - đàn ông, phụ nữ và trẻ em – trôi dạt vào bờ trong đêm qua. Đôi khi, có đến hàng trăm xác người, trông như những mảnh gỗ trên bãi biển. Trong số xác người đó, có nhiều cô gái đã bị hãm hiếp sau đó ném xuống biển để rồi chết đuối. Bi thảm tột cùng mà ngôn từ không thể nào kể lại được  ... Đôi khi, cũng có người, với một phép lạ nào đó, họ vẫn còn sống sót. Họ nằm trên bãi biển vì kiệt sức hoặc bất tỉnh. Họ trôi dạt vào bờ trong đêm, chúng tôi đã giúp họ hồi sinh và chăm nom họ, khi chúng tôi tìm thấy.
Tất nhiên, thời tiết đã gây nhiều tai hại cho thuyền nhân. Có nhiều chiếc thuyền vượt biển thật nhỏ bé, mong manh, tồi tàn. Cũng có nhiều khi, người tỵ nạn bị nhà cầm quyền Việt Nam bắn chận và kéo tàu họ về Việt Nam, những người phạm tội vượt biển còn sống sót thì bị tù đày. Thế nhưng, thảm nạn cướp biển có lẽ là nguyên nhân trầm trọng nhất, trong các vụ giết người. Bọn cướp biển chận bắt gần như tất cả ghe thuyền vượt biên. Trước tiên, chúng nó tìm kiếm vàng, thậm chí còn tàn bạo đến mức kéo cạy lấy vàng bọc răng từ trong hàm răng của mọi người. Điều tiếp theo thu hút chúng nó, chính là những cô gái trẻ. Những tên cướp biển lo ngại bị bắt, và cách tốt nhất để không bị bắt với tang chứng là phá hủy chiếc thuyền và giết hết tất cả những người mà chúng đã hãm hại, và thậm chí chúng nó còn ném các cô gái xuống biển, khi đồng bọn đã thỏa mãn ... Sau đó, các thi thể thuyền nhân bị cuốn trôi vào bờ biển hoặc chỉ chìm mất vào trong lòng biển.”
Đoạn hồi ký trên được trích từ trang 105 & 106, trong quyển Running On Empty, Canada and the Indochinese Refugees, 1975-1980, cùng biên soạn bởi các tác giả Michael J. Molloy, Peter Duschinsky, Kurt F. Jensen, và Robert J. Shalka. Đây là một bộ tài liệu lịch sử dày đến 582 trang, được biên soạn rất công phu. Trong đó, có ghi lại biết bao chuyện thương tâm về người tỵ nạn cộng sản tại Đông Dương, về thuyền nhân Việt Nam. Những thảm cảnh đã được thế giới biết đến và gọi là “Asian Holocaust”; như thời Holocaust, 1941-1945, khi người Do Thái bị quân Nazi lùng bắt và tàn sát. Trang 112 có một tường thuật về chế độ man rợ của cộng sản như sau:
“Vào cuối tháng Mười Hai năm 1978, có gần 200.000 người tỵ nạn trong các trại tạm cư trên khắp Đông Nam Á …
Các phương tiện truyền thông trên toàn thế giới có đăng tin về những hành động và thái độ vô nhân đạo của bạo quyền Việt Nam đối với thuyền nhân. Thời báo New York Times đã kể lại một câu chuyện thật, thật kinh hoàng:
Các nguồn tin chính thức của Philippines hôm nay cho biết rằng quân đội cộng sản Việt Nam đã giết 85 người tỵ nạn người Việt, trong đó có 45 trẻ em, khi thuyền đánh cá của họ mắc cạn ... trên một hòn đảo ở Biển Đông. ... 8 người may mắn sống sót sau vụ thảm sát ngày 22 tháng Sáu này và cuối cùng trôi dạt đến được đất liền và ẩn náu ở Philippines ... Tài liệu đáng tin cậy đã cho biết quân đội cộng sản Việt Nam đã nổ súng vào chiếc ghe của người tỵ nạn bằng súng cối, súng máy và các thứ vũ khí tự động."


Theo Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc, khoảng 200.000 đến 400.000 thuyền nhân đã chết trên biển.
Bao chuyện thương tâm của thuyền nhân Việt Nam đã được nghe biết. Hãy còn biết bao nỗi hãi hùng, đã theo thân xác của người vượt trốn chế độ cộng sản, vùi chôn trong rừng hoang hay dưới đáy biển. Biết bao chuyến đi đã không bao giờ đến được bến bờ tự do. Họ ra đi mà không bao giờ đến!
Người ta không thể quên, nhưng với lòng nhân từ, có thể tha thứ cho bọn cướp biển; họ chỉ vì ham muốn nhục dục, lòng tham nhất thời mà gây nên tội ác. Trái lại, chính sách bất nhân của chế độ cộng sản man rợ, đối với đồng bào mình, thì cả dân tộc phán quyết và sử sách muôn đời khắc ghi.
Chuyện người, như chuyện mình, như sóng uất hờn muôn đời còn cuộn dậy trên Biển Đông.
Chiều nay, xóm biển sau lưng tôi lại xót xa đau, mong chờ tin người đã ra đi!

“Chiều ra biển đứng ê chề
Tìm trên ngọn sóng… có về xác em
Vớt rong rêu… ngỡ tóc mềm
Quay về hướng gió… tưởng em thơ dại
Tìm trong bọt trắng… thân người
Nghẹn ngào dấu vết còn phơi lõa lồ
Xác em… nay ở phương nào
Tấp sang đất Thái hay vào Nam Dương
Có khi xác vượt trùng dương
Trôi về Bắc Mỹ trách hờn người yêu
Biển lớn cuốn em đi… Biển lớn cuốn em đi…
Rời xa, rời xa,… rời xa mãi!
Biển ơi, trả cho ta... Biển ơi, trả cho ta...
xác em yêu!... xác em yêu!
Chiều ra biển đứng ngậm ngùi!
Nhớ em và… nhớ cả trời Việt Nam!” *

Bùi Đức Tính
……………………………………………………………………………
* Xác Em Nay Ở Phương Nào - Thơ: Ngọc Khôi